Dừa cạn: Đặc điểm, tác dụng và một số bài thuốc


Dừa cạn - loài hoa cây cảnh được nhiều người yêu thích và trồng trong sân vườn, còn được biết đến là một loại thảo dược dân gian hữu ích. Cây dừa cạn được dùng để chữa các bệnh như đi tiểu ít, tiểu buốt, bế kinh nguyệt, huyết áp cao và các vấn đề tiêu hóa kém. Tuy nhiên không phải ai cũng biết hết những công dụng cũng như bài thuốc chữa bệnh từ loại cây này. Vậy hãy cùng chúng tôi tìm hiểu chi tiết về cây dừa cạn trong bài viết này nhé.

dừa cạn

    Tìm hiểu về dược liệu dừa cạn

    Tên gọi, phân bố

    Dừa cạn còn có những tên gọi khác như Bông dừa, hoa hải đằng, trường xuân và có tên khoa học là Catharanthus roseus (L.) G.Don, thuộc họ Trúc đào (Apocynaceae). 

    Dừa cạn mọc hoang và được trồng nhiều ở các quốc gia có khí hậu nhiệt đới như Indonesia, Ấn Độ và Việt Nam. Ngoài ra cây bông dừa cũng được trồng tại châu Mỹ, châu Phi và châu Úc. Là một loài cây có hoa với nhiều màu sắc đẹp mắt nên được nhiều người trồng trong sân vườn làm cảnh.

    cây dừa cạn

    Mô tả cây dừa cạn

    Dừa cạn là cây thân thảo, sống lâu năm, có chiều cao khoảng 40-60cm, thân hình trụ mọc thẳng đứng, phân thành nhiều cành. Cành và thân đều nhẵn, lúc còn non có màu xanh nhạt, sau chuyển dần thành màu hồng tím.

    Lá cây dừa cạn hình bầu dục, mọc đối, mặt trên có màu sẫm hơn mặt dưới. Hoa có 5 cánh đều nhau và thường có màu hồng, ngoài ra còn có nhiều màu sắc khác như trắng, đỏ, tím, cam đào... nhưng ít gặp hơn. 

    Quả cây dừa cạn dài, gồm 2 đại, mọc thẳng đứng và hơi tách sang hai bên. Mỗi quả chứa khoảng 12–20 hạt nhỏ màu nâu nhạt, hình trứng. Hoa và quả gần như quanh năm, đặc biệt là vào tháng 4-5 và tháng 9-10. Dáng cây mềm mại, lá xanh mướt, hoa rực rỡ thu hút là những nét độc đáo khiến loài hoa này trở nên hấp dẫn và được nhiều người yêu thích. 

    Bộ phận dùng, thu hái và chế biến

    Bộ phận của cây dừa cạn được dùng làm thuốc chủ yếu là lá và phần ngọn cây được phơi nắng hoặc sấy khô ở nhiệt độ 30-50 độ C. Khi cần người ta sẽ đem rửa sạch để sắc nước uống hoặc chế biến thành dạng trà hoặc giã, đắp. Ngoài ra còn có thể dùng toàn cây để sắc thuốc hay cao lỏng.

    dừa cạn

    Thành phần hóa học của dừa cạn

    Theo nhiều nghiên cứu khoa học, cây dừa cạn chứa đến khoảng 70 Alkaloid thuộc nhiều nhóm khác nhau, hầu hết là Alkaloid nhân indol. Trong đó nổi bật nhất là các Alkaloid như vinblastin và vincristin, isoleurosin, lochneridin, sitsirikin, vancomycin, catharin, vindolicin.

    Tác dụng của dừa cạn

    Theo y học cổ truyền, dừa cạn là dược liệu có vị hơi đắng, tính mát, có tác dụng hoạt huyết, hạ huyết áp và giải độc cho cơ thể.

    Vinblastin trong dừa cạn rất tốt cho người bệnh ung thư nhưng lại gây hại cho thai nhi, ức chế hệ thần kinh. Vì vậy chúng được dùng để hạn chế hình thành bạch cầu dư thừa ở các trường hợp bị ung thư máu.

    Thân và lá cây dừa cạn có khả năng lọc máu và nâng cơ da.

    Ngoài ra, dừa cạn còn được sử dụng phổ biến để thông tiểu tiện, lợi tiểu, chữa các bệnh đi tiểu ít, tiểu buốt, bệnh cao huyết áp, điều trị vấn đề tiêu hóa kém và lỵ cấp, mạn tính.

    Liều lượng và cách dùng dừa cạn

    Có thể dùng toàn bộ cây dừa cạn làm thuốc chữa bệnh. Trung bình liều lượng sử dụng thuốc khoảng 8-20g/ngày ở dạng thuốc sắc, cao lỏng hay viên nén từ cao khô.

    Trên thị trường, chiết xuất dừa cạn thường được bán là vincaleucoblastin (hay vinblastine) dưới dạng muối sulfat, dùng tiêm tĩnh mạch với liều lượng 0,10–0,15mg/kg thể trọng. Thuốc này chủ yếu được dùng để chống lại bệnh Hodgkin và người bệnh cần phải theo dõi bạch cầu khi dùng.

    Một thành phần khác trong dược liệu này được sản xuất là leurocristine (hay vincristine) dưới dạng muối sulfat, dùng tiêm tĩnh mạch với liều 0,03–0,1mg/kg trong các trường hợp bệnh về máu, bệnh bạch huyết.

    Một số bài thuốc chữa bệnh từ dừa cạn

    Dưới đây là một số bài thuốc hữu hiệu và phổ biến từ cây dừa cạn:

    Hỗ trợ điều trị bệnh ung thư: 30g cây xạ đen và 15g cây hoa dừa cạn, đem sắc với 1 lít nước đến khi còn 700ml thì tắt bếp, chia thành 3 lần uống và dùng sau khi ăn 30 phút.

    Hỗ trợ điều trị chứng tăng huyết áp: Chuẩn bị 140g cam thảo đất, 120g đỗ trọng, 160g dừa cạn, 100g chi tử, 160g cỏ xước, 180g lá đinh lăng và 150g hoa hòe. Tất cả đem sao giòn, tán vụn và bảo quản trong hộp kín. Mỗi ngày lấy 40g hãm với 1 lít nước sôi trong vòng 10 phút và dùng thay nước trà.

    Điều trị zona thần kinh: Hạ khô thảo, bông dừa (sao vàng, hạ thổ), cam thảo đất, thổ linh và nam tục đoạn mỗi vị 16g, chi tử và bạch linh mỗi vị 10g, kinh giới 12g. Đem sắc 3 lần và uống 3 lần/ngày. Uống cho đến khi khỏi.

    Đắp làm giảm đau nhức: Lấy 1 lượng bằng nhau lá cây hòe và lá cây dừa cạn. Đem giã nhỏ và đắp lên vùng đau nhức, băng bó lại.

    Trị chứng bạch đới ở nữ giới: Lá bạc sau, rễ cây bạch đồng từ, cây chó đẻ, biển đậu và đan sâm mỗi vị 16g, đem sắc cùng với 12g cây dừa cạn lấy nước uống. Ngày dùng 1 thang.

    Hỗ trợ điều trị chứng u xơ tuyến tiền liệt: Chuẩn bị 16g đinh lăng, huyền sâm, dừa cạn, chè khô mỗi vị 12g, xuyên sơn và bối mẫu 10g, cát căn 6g, trinh nữ hoàng cung 5g. Tất cả đem sắc uống. Ngày uống 3 lần.

    Hỗ trợ điều trị xơ gan và viêm gan: Sử dụng 10g diệp dạ châu, 10g cây hoa dừa cạn và 30g thân, rễ, lá của cây cà gai leo. Tất cả đem sao vàng, sắc uống ngày 1 thang.

    Trị chứng rong kinh: Cây dừa cạn sao vàng (dùng toàn bộ thân, lá, rễ và hoa). Đem sắc uống liên tục trong 3 – 5 ngày.

    Trị chứng mất ngủ: Hạt muồng sao đen và lá vông nem mỗi vị 12g, thân lá dừa cạn khô (sao vàng) 20g. Cho tất cả vào nôi, đem sắc lấy nước uống trước khi đi ngủ.

    Trị chứng tiêu khát (khát nhiều và tiểu tiện nhiều): đem 20g cây dây thìa canh và 10g bông dừa sắc với 1 lít nước đến khi còn lại 3 bát. Chia thành 3 lần uống trong ngày, nên sử dụng sau khi ăn 15 – 20 phút.

    Trị lỵ trực khuẩn: chuẩn bị hoàng liên và chi tử mỗi vị 10g, dừa cạn (sao vàng hạ thổ), đinh lăng, rau má, lá khổ sâm, cỏ mực và cỏ sữa mỗi vị 20g. Đem tất cả cho vào nồi, sắc với 600ml nước đến khi còn lại 300ml và chia thành 3 lần uống. Dùng liên tục trong vòng 5 ngày.

    Trị chứng bế kinh: chuẩn bị hương phụ và nga truật mỗi vị 12g, kê huyết đằng, bông dừa (phơi khô), trạch lan mỗi vị 16g, tô mộc 20g, chỉ xác 8g và hồng hoa 10g. Đem các vị thuốc cho vào nồi, sắc với 500ml nước, còn lại 300ml và chia làm 2 lần uống.

    Trị vết bỏng nhẹ: Lấy lá dừa cạn tươi, giã nát, đắp lên vết bỏng. Thực hiện 2 – 3 lần/ ngày. Lưu ý: Không thực hiện với những vết bỏng nặng, trợt lở da và bỏng da trên diện rộng.

    Lưu ý khi sử dụng dừa cạn

    • Không nên sử dụng dừa cạn làm thuốc cho người huyết áp thấp, phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú
    • Sử dụng quá nhiều dược liệu này có thể gây mù, thậm chi tử vong. Vì vậy không nên dùng quá 50g/ngày.
    • Alkaloid trong dừa cạn có thể gây ra một số tác dụng phụ như táo bón, viêm miệng, nôn mửa, buồn nôn, rụng tóc, chán ăn, viêm thần kinh...
    • Một số chuyên gia cho rằng dừa cạn trắng có tác dụng dược lý mạnh hơn dừa cạn màu hồng hoặc đỏ.
    • Như đã nói ở trên, vinblastine và vincristine trong dừa cạn có tác dụng chống ung thư. Nhưng sử dụng tùy tiện có thể gây ngộ độc và tử vong.

    Qua bài viết có thể thấy, cây dừa cạn vừa mang tính thẩm mỹ cao, vừa có nhiều công dụng chữa bệnh rất tốt. Tuy nhiên khi sử dụng không phù hợp hoặc lạm dụng có thể dẫn đến những hậu quả rất nghiêm trọng. Vì vậy nếu muốn sử dụng dừa cạn làm thuốc chữa bệnh, bạn vẫn nên hỏi ý kiến chuyên gia hoặc bác sĩ.