Panthenol


Panthenol hay còn được gọi là pantothenol là chất tương tự rượu của axit pantothenic (vitamin B5),và la tiền vitamin B5. Trong các sinh vật, panthenol nhanh chóng bị oxy hóa thành axit pantothenic. Nó là một chất lỏng trong suốt nhớt ở nhiệt độ phòng. Panthenol được sử dụng như một loại kem dưỡng ẩm và để cải thiện khả năng chữa lành vết thương trong dược phẩm và mỹ phẩm.

    Chỉ định của Panthenol

    Dạng uống:

    Thiếu hụt acid pantothenic.

    Một số trường hợp viêm dây thần kinh ngoại biên, chuột rút cơ chân ở người mang thai và nghiện rượu, hội chứng nóng rát ở chân, viêm lưỡi không khỏi khi điều trị bằng những vitamin khác.

    Dạng gel:

    Tổn thương giác mạc không viêm tái diễn ở người mang kính áp tròng.

    Phụ trị tổn thương giác mạc do nhiễm vi khuẩn, nấm hay virus.

    Dạng kem bôi:

    Tổn thương da: bỏng da, phỏng nắng, trầy xước da, mảng ghép da chậm lành.

    Nứt da chân, nứt đầu vú, rạn da do mang thai, hăm đỏ vùng mông trẻ sơ sinh.

    Dạng tiêm:

    Dùng dự phòng ngay sau khi phẫu thuật lớn vùng bụng để giảm thiểu khả năng liệt ruột. Mất trương lực ruột gây chướng bụng; hậu phẫu hoặc sau sinh vẫn giữ được tình trạng đầy hơi, hoặc sự chậm trễ sau phẫu thuật trong việc phục hồi nhu động ruột; liệt ruột.

    Chống chỉ định Panthenol

    Panthenol chống chỉ định trong các trường hợp mẫn cảm với một trong các thành phần của thuốc.

    Thận trọng khi dùng Panthenol

    Không được tiêm panthenol để điều trị tắc ruột cơ học. Đối với liệt ruột, cần chú ý đến cung cấp nước và điện giải, chống thiếu máu, giảm protein huyết, chống nhiễm khuẩn, tránh dùng thuốc làm giảm nhu động ruột.

    Panthenol kéo dài thời gian chảy máu nên phải sử dụng thận trọng ở những người có bệnh ưa chảy máu hoặc có nguy cơ chảy máu.

    Trẻ em phải dùng thuốc dưới sự hướng dẫn của bác sĩ.

    Tránh tiếp xúc với mắt.

    Thai kỳ

    Thời kỳ mang thai

    Không có báo cáo.

    Thời kỳ cho con bú

    Không bôi thuốc ở vùng da tiếp cận với trẻ (vú, vùng ngực quanh vú).

    Tác dụng không mong muốn (ADR)

    Thường gặp

    Châm chích, mẫn đỏ, kích ứng.

    Ít gặp

    Không có báo cáo.

    Hiếm gặp

    Thay đổi bất thường trên da, phản ứng dị ứng: phát ban, ngứa, sưng, chóng mặt, khó thở.

    Liều lượng và cách dùng Panthenol

    Liều lượng

    Người lớn

    10 mg calci pantothenat tương đương với 9,2 mg acid pantothenic.

    Đường uống:

    5 - 10 mg acid pantothenic/ngày bổ sung dinh dưỡng cho người bệnh có hấp thu đường tiêu hóa bình thường.

    Tiêm hoặc tiêm truyền:

    Điều trị tăng kích thích nhu động ruột: Tiêm bắp, liều bắt đầu 250 mg - 500 mg dexpanthenol, nhắc lại sau 2 giờ, sau đó cứ 4 - 12 giờ dùng một liều khi cần.

    Truyền tĩnh mạch chậm:

    500 mg dexpanthenol. Nếu không thấy đỡ chướng bụng hoặc liệt ruột nhanh, phải chuyển sang các phương pháp điều trị khác.

    Dùng tại chỗ:

    Khi sử dụng tại chỗ để chữa ngứa và bệnh da, bôi thuốc kem chứa 2% dexpanthenol vào vùng bị tổn thương, ngày 1 hoặc 2 lần, hoặc nhiều hơn nếu cần.

    Dùng nhỏ mắt:

    Nhỏ một giọt vào túi kết mạc 4 lần/ngày và trước khi đi ngủ.

    Vết bỏng nhẹ: thoa một lớp thuốc dày sau khi đã sát trùng sạch vùng tổn thương.

    Ngừa và trị phỏng nắng: thoa một lớp thuốc mỏng trên da.

    Trẻ em

    Điều trị tăng kích thích nhu động ruột: 11 mg - 12,5 mg dexpanthenol/kg tiêm bắp, nhắc lại sau 2 giờ, sau đó cứ 4 - 12 giờ dùng một liều khi cần.

    Trẻ sơ sinh: Thoa một lớp mỏng thuốc lên vùng mông hăm đỏ sau khi vệ sinh hằng ngày và sau mỗi lần thay tã cho bé.

    Đối tượng khác

    Mẹ đang cho con bé: Sau khi cho bú xong, thoa một lớp mỏng thuốc lên núm vú và xoa nhẹ. Lau sạch vùng bôi thuốc trước khi cho bú trở lại.

    Cách dùng

    Đường uống:

    Acid pantothenic và calci pantothenat được dùng đường uống.

    Tiêm hoặc tiêm truyền:

    Dexpanthenol thường được tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch chậm và cũng được dùng tại chỗ dưới dạng kem bôi, dạng phun bọt.

    Khi truyền tĩnh mạch chậm, dexpanthenol được pha với một lượng lớn dung dịch tiêm truyền dextrose 5% hoặc dung dịch ringer lactat.

    Dùng nhỏ mắt:

    Dạng gel nhỏ mắt được dùng nhỏ mắt.

    Dạng kem:

    Thoa thuốc 1 - 2 lần mỗi ngày và xoa nhẹ để thuốc ngấm.

    Quá liều và xử trí quá liều

    Quá liều và độc tính

    Quá liều panthenol gây ra các tình trạng như khó thở hoặc ngất.

    Cách xử lý khi quá liều

    Gọi ngay cho trung tâm y tế gần nhất để được cấp cứu.

    Dược lý

    Dược lực học

    Panthenol là một dẫn xuất rượu của acid pantothenic, một thành phần của phức hợp vitamin nhóm B và là một thành phần thiết yếu của biểu mô để chúng hoạt động bình thường. Panthenol tồn tại dưới dạng hỗn hợp racemic chứa cả dạng đồng phân d (dexpanthenol) và dạng đồng phân l (levopanthenol). Trong khi acid pantothenic chỉ có dạng đồng phân d (dexpanthenol ) là có hoạt tính sinh học. Panthenol được dùng tại chỗ làm giảm ngứa và mau chóng làm lành vết thương ở da.

    Acid pantothenic là một tiền chất của coenzyme A, đóng vai trò như một đồng yếu tố cho một loạt các phản ứng xúc tác bởi enzyme liên quan đến việc chuyển các nhóm acetyl. Bước cuối cùng trong quá trình tổng hợp acetylcholine bao gồm chuyển choline acetylase của nhóm acetyl từ acetyl coenzyme A thành choline. Acetylcholine là chất dẫn truyền thần kinh trong hệ phó giao cảm và do đó duy trì các chức năng bình thường của ruột. Giảm hàm lượng acetylcholine sẽ dẫn đến giảm nhu động ruột và trong trường hợp nghiêm trọng là tắc ruột do liệt ruột.

    Dược động học

    Dexpanthenol, dạng hoạt động của panthenol, được phân cắt bằng enzym để tạo thành acid pantothenic (vitamin B5), là một thành phần thiết yếu của Coenzyme A, hoạt động như một đồng yếu tố trong nhiều phản ứng enzym quan trọng đối với sự chuyển hóa protein trong biểu mô.

    Do khả năng thâm nhập tốt và nồng độ cao cục bộ, dexpanthanol được sử dụng trong nhiều sản phẩm bôi ngoài da, chẳng hạn như thuốc mỡ và kem dưỡng da để điều trị các bệnh da liễu để giảm ngứa hoặc thúc đẩy quá trình chữa lành da. Tác dụng ngoài da của việc sử dụng dexpanthenol tại chỗ bao gồm tăng sinh nguyên bào sợi và tăng tốc độ tái biểu mô hóa trong quá trình lành vết thương. Hơn nữa, nó hoạt động như một chất bảo vệ tại chỗ, dưỡng ẩm và đã được chứng minh là đặc tính chống viêm.