
Giao đến

Bạc hà cay – một “hậu duệ” lai giữa các loài bạc hà – nổi bật với mùi cay nồng, tinh dầu dồi dào và công năng chữa bệnh mạnh mẽ hơn so với bạc hà thông thường. Dưới đây là góc nhìn tổng quan về loại thảo mộc này, từ hình thái, nơi sinh trưởng đến giá trị dược liệu quý giá.

Không chỉ xuất hiện trong bữa ăn hàng ngày như một loại rau thơm, bạc hà còn là vị thuốc quý được cả y học cổ truyền và y học hiện đại nghiên cứu, ứng dụng. Với hương thơm mát lành, vị cay dịu đặc trưng, cây bạc hà đã trở thành “kho báu” tinh dầu thiên nhiên, mang đến nhiều lợi ích cho sức khỏe và đời sống.

Ba gạc hoa đỏ là loài cây thuộc họ Trúc đào, thường được gọi bằng cái tên khác là “Ba gạc Ấn Độ”. Chúng là một trong những dược liệu quen thuộc, có công dụng an thần và điều hòa huyết áp.

Ba gạc bốn lá còn gọi là Ba gạc Cu Ba. Loài cây này không chỉ nổi bật nhờ hình thái đặc biệt – lá mọc vòng thành 4 chiếc – mà còn nhờ giá trị dược liệu cao với nhiều alkaloid quý hiếm.

Ba gạc Ấn Độ là cây mọc hoang thuộc họ Trúc đào (Apocynaceae), tên khoa học là “Rauvolfia serpentina (L.) Benth. ex Kurz”, tìm thấy nhiều ở Ấn Độ và các tỉnh Tây Nguyên, Việt Nam. Công dụng của ba gạc Ấn Độ là dùng làm thuốc huyết áp.

A Ngùy vươn mình từ những vùng núi khô cằn Trung Á, được Đông y ghi nhận là một thảo dược quý với mùi hôi đặc trưng, vị cay, đắng nhưng sở hữu hàng loạt công dụng trị liệu: từ hỗ trợ hô hấp như hen suyễn, viêm phế quản đến giảm chướng hơi, cải thiện tiêu hóa, điều hòa kinh nguyệt... Hãy cùng khám phá khoa học và kinh nghiệm dân gian về vị thuốc này.

Cây Ba gạc, còn gọi là Ba gạc thuốc, từ lâu đã được biết đến như một vị thuốc quý trong kho tàng y học cổ truyền Việt Nam và nhiều quốc gia châu Á. Không chỉ nổi bật với khả năng hỗ trợ hạ huyết áp, an thần và điều hòa giấc ngủ, Ba gạc còn được sử dụng trong điều trị rắn cắn, sốt rét, bệnh ngoài da và nhiều chứng bệnh khác.

Ba Đậu Tây, còn gọi là cây Vông Đồng, là một loài cây gỗ lớn thuộc họ Thầu dầu. Cây nổi bật với thân có nhiều gai, quả nổ mạnh và nhựa mủ độc. Trong y học cổ truyền, cây được dùng để trị mụn nhọt, bệnh hủi, làm thuốc xổ hoặc thuốc tẩy. Tuy nhiên, do độc tính cao nên việc sử dụng cần cực kỳ thận trọng và có sự hướng dẫn của bác sĩ.

Ba đậu là cây thân gỗ nhỡ thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có tên khoa học là “Croton tiglium L.”, nguồn gốc từ Tứ Xuyên, Trung Quốc. Công dụng đa dạng như chữa táo bón, đầy bụng, thấp khớp,... nhưng cần chú ý khi dùng vì ba đậu có độc.

Bả dột là cây thân cỏ thuộc họ Cúc (Asteraceae) có tên khoa học là “Eupatorium triplinerve Vahl” phân bố ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ. Lá bả dột thường được dùng để pha trà giải cảm sốt.

Ba chẽ là loài cây nhỏ sống lâu năm, có tên khoa học là “Desmodium triangulare (Retz.) Schindl.”, thuộc họ “Fabaceae” (Đậu), phân bố ở vùng trung du và miền núi.Công dụng chính của ba chẽ là dùng để chữa bệnh kiết lỵ.

Nếu bạn đã từng đến Đà Lạt, Sapa, hẳn bạn không còn xa lạ với những bông hoa actiso to lớn, màu tím mộng mơ. Nhưng ít ai biết, ngoài vẻ đẹp và hương vị thơm ngon, actiso còn là một loại dược liệu quý giá, được mệnh danh là "thần dược" cho gan.

A Giao, còn gọi là cao hay keo da lừa (Colla Asini, Gelatinum Asini), là một vị thuốc truyền thống quý hiếm của Trung Quốc được bào chế từ da lừa. Được chế thành miếng keo màu nâu-đen bóng, a giao đóng vai trò quan trọng trong các bài thuốc dưỡng huyết, cầm máu, an thai và bồi bổ sức khỏe, đặc biệt phổ biến trong y học cổ truyền.

Bac chạc là loài cây thuộc họ Cam, tên khoa học là “Evodia lepta (Spreng.) Merr.”, sống được trên nhiều loại đất khác nhau, phân bố chủ yếu ở Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Lá và cành được dùng trong các bài thuốc điều kinh, dễ tiêu, tắm ghẻ, rửa loét,...

Âu ô đầu có tên khoa học là “Aconitum napellus L.”, thuộc họ “Ranunculaceae”, có nguồn gốc từ Châu Á và Bắc Mỹ, là dược liệu sử dụng nhiều trong Tây y. Công dụng chính là chữa ho, ra nhiều mồ hôi, nhưng cần hết sức thận trọng khi sử dụng.